Hiểu thế nào cho đúng về quy định phạt xe không chính chủ?

0
93

Không phải đến Nghị định 100/2019 mà từ Nghị định 46/2016 đã có quy định về xử phạt đối với lỗi xe không chính chủ. Thực hư thế nào mời bạn đọc tham khảo bài viết sau.

Hiểu thế nào cho đúng về quy định phạt xe không chính chủ?

Gần đây, thông tin từ năm 2020, Nghị định 100/2019 thay thế Nghị định 46/2016 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ – đường sắt sẽ xử phạt những người đi xe không chính chủ, kể cả đi xe mượn, xe thuê… đang khiến nhiều người hoang mang.

Cách hiểu này có đúng và thực chất Nghị định 100 đang quy định như thế nào?

Quy định về xử phạt đối với lỗi xe không chính chủ không phải là quy định mới tại Nghị định 100/2019 mà quy định đã có tại Nghị định 46/2016.

Cụ thể, Khoản 1 và Khoản 5 Điều 30 Nghị định 46/2016 quy định, mức xử phạt đối với chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ như sau:

Phạt tiền từ 100.000 – 200.000 đồng đối với cá nhân, từ 200.000 – 400.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

Phạt tiền từ 1 – 2 triệu đồng đối với cá nhân, từ 2 – 4 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô thực hiện hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật giao thông, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Xử phạt đối với hành vi xe không chính chủ hay chính xác là hành vi không đăng ký sang tên xe

Đến Nghị định 100/2019, quy định xử phạt đối với hành vi xe không chính chủ hay chính xác là hành vi không đăng ký sang tên xe tại Nghị định 46 tiếp tục được tái khẳng định nhưng với mức xử phạt cao hơn

Cụ thể, Khoản 4 và Khoản 7 Điều 30 Nghị định 100 quy định: Phạt tiền từ 400.000 – 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 – 1,2 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô.

Phạt tiền từ 2 – 4 triệu đồng đối với cá nhân, từ 4 – 8 triệu đồng đối với tổ chức là chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự xe ô tô không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng, các loại xe tương tự xe ô tô.

Việc xử phạt đối với hành vi xe không chính chủ là quy định đã có từ năm 2016 chứ không phải đến năm 2020 mới có như nhiều người vẫn nghĩ. Nếu mới thì chỉ là mới về mức tiền phạt, cụ thể như đã nêu trên.

Tuy nhiên, quy định về xử phạt lỗi xe không chính chủ tại Nghị định 46 và Nghị định 100 chỉ áp dụng đối với chủ xe mô tô, xe máy, xe ô tô và các loại xe tương tự, tức phải là chủ sở hữu của phương tiện, những người không phải là chủ sở hữu phương tiện thì không thuộc phạm vi điều chỉnh, không phải là đối tượng xử lý của quy định này.

Theo đó, người điều khiển phương tiện đi thuê, đi mượn hoặc sử dụng chung phương tiện với người thân trong gia đình để tham gia giao thông sẽ không bị xem xét, xử lý về hành vi xe không chính chủ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

 

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây