Lỗi không tuân thủ vạch kẻ đường

0
830

Hiện nay nhiều phương tiện tham gia giao thông vẫn bị nhầm lầm lẫn giữa lỗi đi sai vạch kẻ đường và lỗi đi sai làn đường, bài viết sau đây sẽ làm rõ vấn đề này.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật giao thông, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Trước tiên chúng ta cần hiểu rõ vạch kẻ đường là gì? “Vạch kẻ đường là một dạng báo hiệu, có thể dùng độc lập hoặc kết hợp với các loại biển báo, đèn tín hiệu để hướng dẫn, điều khiển giao thông nhằm nâng cao an toàn và khả năng lưu thông xe”. Có nhiều cách để phân định vạch kẻ đường như: dựa vào vị trí sử dụng (vạch trên mặt bằng và vạch đứng); dựa vào hình dáng, kiểu (vạch kẻ liền và vạch kẻ đứt khúc).

Có hai loại vạch kẻ đường quen thuộc bao gồm:

Vạch đứt khúc trắng: Đây là vạch được kẻ theo chiều dọc giúp phân chia làn đường. Nếu vạch ở đầu đường có tác dụng hướng dẫn xe chạy đúng tuyến đường.
Vạch liền trắng: Đây là vạch kẻ dọc dùng để phân cách giữa làn xe có động cơ và làn xe không có động cơ, hoặc còn có thể để qui định giới hạn ngoài của đường dành riêng cho xe chạy. Trong trường hợp vạch ở đầu đường có tác dụng hướng dẫn xe chạy hoặc xe dừng.
Theo quy định của QCVN 41:2012/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012/TT-BGTVT ngày 29 tháng 5 năm 2012 quy định: Trong trường hợp vạch kẻ đường được sử dụng độc lập thì tất cả những người tham gia giao thông phải có trách nhiệm tuân thủ theo nội dung của vạch kẻ đường. Trường hợp vạch kẻ đường được sử dụng kết hợp với đèn tín hiệu, biển báo hiệu thì người tham gia giao thông phải tuân theo ý nghĩa, hiệu lệnh của tất cả, bao gồm vạch kẻ đường và đèn tín hiệu, biển báo hiệu đúng theo thứ tự quy định.

Lỗi đi sai vạch kẻ đường là gì?

 Lỗi đi sai vạch kẻ đường là lỗi không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường. Lỗi này thường ở những nơi đường giao nhau có đặt biển báo hiệu “Hướng đi trên mỗi làn đường phải theo” kết hợp với vạch mũi tên chỉ hướng đi trên mặt đường.

Thông thường, ở các ngã 3 hay ngã 4, nơi mà các dòng phương tiện đông đúc được phân luồng theo các hướng như luồng cho xe rẽ phải, luồng cho xe đi thẳng, luồng cho xe rẽ trái nhằm hạn chế tối đa sự xung đột và va chạm giao thông thông qua vạch kẻ đường và mũi tên chỉ hướng đi trên mỗi phân đường cùng với biển báo 411 – hướng đi trên mỗi làn đường theo vạch kẻ đường.​

Tuy nhiên, điểm cần lưu ý trong trường hợp này là biển 411 phải được sử dụng phối hợp cùng với vạch kẻ đường 1.18 – chỉ dẫn các hướng đi cho phép của các làn xe ở nơi giao nhau ở dưới thì mới có hiệu lực xử phạt (hoặc chỉ có riêng vạch kẻ đường 1.18 thì vẫn có hiệu lực xử phạt tương tự). Do đó, trường hợp mà chỉ có biển báo 411 mà không kèm theo vạch kẻ đường 1.18 thì sẽ không có hiệu lực xử phạt, tức lái xe không bị phạt hành chính; bởi biển 411 là biển chỉ dẫn, tức hướng dẫn thực hiện và không được dùng làm căn cứ để xử phạt.

Ví dụ: Theo biển báo và vạch kẻ đường, xe rẽ phải tại làn đi thẳng thì đây chính là lỗi không chấp hành chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

Vạch kẻ đường là một dạng báo hiệu, có thể dùng độc lập hoặc kết hợp với các loại biển báo, đèn tín hiệu để hướng dẫn, điều khiển giao thông nhằm nâng cao an toàn và khả năng lưu thông xe.

Có nhiều cách phân loại vạch kẻ đường như dựa vào vị trí sử dụng (vạch trên mặt bằng và vạch đứng); dựa vào hình dáng, kiểu (vạch kẻ liền và vạch kẻ đứt khúc)…

Lỗi đi sai vạch kẻ đường hay chính xác là lỗi không chấp hành hiệu lệnh hoặc chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường. Lỗi này thường ở những nơi đường giao nhau có đặt biển báo hiệu “Hướng đi trên mỗi làn đường phải theo” kết hợp với vạch mũi tên chỉ hướng đi trên mặt đường. Ví dụ: Theo biển báo và vạch kẻ đường, xe rẽ phải tại làn đi thẳng… đây chính là lỗi không chấp hành chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

Mức phạt cho lỗi không tuân thủ vạch chỉ đường

Hiện nay, mức phạt cho lỗi không tuân thủ chỉ dẫn vạch kẻ đường đã tăng gấp đôi. Cụ thể, phạt lỗi này đối với người điều khiển ô tô từ 200.000 – 400.000 đồng, với người điều khiển xe máy là từ 100.000 – 200.000 đồng.

Tại nghị định 100/2019/NĐ-CP cũng đã qui định rõ các trường hợp không áp dụng cho trường hợp xử phạt không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường. Trong đó, tất cả các trường hợp của các loại phương tiện mà người điều khiển có hành vi vi phạm liên quan đến sai làn đường đều là trường hợp không áp dụng cho trường hợp xử phạt không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, ví dụ như điểm c khoản 4 Điều 5 nói trên.

Ví dụ cụ thể: điểm a khoản 1 Điều 5 quy định:

“Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người được chở trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

(i) Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại điểm a, điểm d, điểm g, điểm h, điểm i, điểm k khoản 2; điểm a, điểm d, điểm đ, điểm e, điểm k, điểm l, điểm o, điểm r, điểm s khoản 3; điểm b, điểm c, điểm d, điểm đ, điểm I khoản 4; điểm a, điểm c, điểm d, điểm đ, điểm e, điểm g, điểm i khoản 5; điểm a, điểm b khoản 6; điểm a, điểm c khoản 7; điểm a khoản 8 Điều này;

Người tham gia giao thông cần biết, nếu vạch kẻ phân cách các làn theo hướng đi là vạch liền, các phương tiện phải chuyển làn để di chuyển theo hướng định đi trước khi vào khu vực đó và không được đè vạch. Nếu vạch kẻ là vạch nét đứt, các phương tiện được chuyển sang các làn theo hướng di chuyển khác nhưng phải chuyển xong trước khi tới vạch dừng xe. Thứ tự ưu tiên chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ là đèn tín hiệu, biển báo hiệu, vạch kẻ đường.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây