Quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

0
559

Tóm tắt câu hỏi:

Tôi là người lao động, đã ký hợp đồng lao động với một doanh nghiệp như sau:
Từ 10/09/2012 đên  31/12/2012 : Ký hợp đồng thử việc. (Không đóng bảo hiểm XH + thất nghiệp)
Từ 02/01/2013 đến  31/12/2013 : Ký hợp đồng có thời hạn (Không đóng bảo hiểm XH  + Thất nghiệp).
Từ 01/01/2014: Ký hợp đồng không xác định thời hạn. (Bắt đầu đóng bảo hiểm).
Ngày 15 tháng 12 năm 2015, Giám đốc công ty gọi tôi lên phòng họp và thông báo bằng miệng cho tôi là “Chị đang có ý định thay đổi vị trí của em, do đến thời điểm này em không còn phù hợp với sự phát triển của công ty nữa, vậy chị thông báo cho em biết trước để chuẩn bị công việc mới của mình, hiện tại em sẽ tiếp tục làm việc ít nhất là hết tháng 12, có thể hết tháng 1 năm 2019 “.
Vậy tôi xin nhờ các Luật sư tư vấn cho tôi: Trong trường hợp này, tôi cần phải làm gì để đảm bảo quyền lợi người lao động, và nếu thực hiện đúng luật thì tôi được hưởng những quyền lợi gì?

Trả lời tư vấn:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi vấn đề bạn quan tâm đến công ty Luật Việt. Vấn đề bạn quan tâm chúng tôi xin được tư vấn như sau:
Theo quy định tại điều 31 bộ luật lao động 2012, bạn có thể thỏa thuận với công ty để công ty tạm thời chuyển công việc hiện tại của bạn sang làm công việc khác so với hợp đồng lao động,
Trường hợp công ty có thể  đưa ra  lý do được quy định tại điều 36, 38 Bộ Luật lao động.
Phía công ty sẽ phải chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm như sau:
Trợ cấp thôi việc quy định tại khoản 1 điều 48:
“Đối với chi trả trợ cấp thôi việc nếu lý do đó thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm
chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”

Trợ cấp mất việc làm theo quy định tại khoản 1 điều 49
“Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương”.
Nếu công ty không đưa ra được các lý do để chấm dứt một cách hợp pháp được quy định tại điều 36, 38 khi đó công ty phải bồi thường cho bạn theo quy định tại điều 42 Bộ luật lao động
“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.
Ngoài ra theo quy định tại khoản 1 điều 43 Luật việc làm 2013
“1.  Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:
a)  Hợp đồng lao động hoặc hp đồng làm việc không xác định thời hạn;
b)  Hợp đồng lao động hoặc hp đồng làm việc xác định thời hạn;
c) Hp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp”
Tại khoản 1 điều 44 Luật việc làm
“Người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động tại tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc có hiệu lực”.
Trong khoảng thời gian Từ 02/01/2013 đến 31/12/2013 giữa bạn và công ty có Ký hợp đồng lao động có thời hạn mà không tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp vi phạm quy định của pháp luật bởi thời gian này bắt buộc phải đóng bảo hiểm thất nghiệp.
Theo quy định tại điều 49 Luật việc làm quy định điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, trường hợp của bạn thỏa mãn điều kiện quy định tại khoản 1 điều này:
“Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:
a)  Người lao động đơn  phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;
b)  Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng” ……….
Theo quy định này bạn có thể yêu cầu công ty chi trả cho bạn số tiền mà bạn không tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Số tiền này tương ứng với mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại khoản 1 điều 50 Luật việc làm:
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc“.
Trên đây là nội dung tư vấn của V-Law về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ qua Email hoặc gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến – Số điện thoại liên hệ 1900.6198 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây