Quyền lợi khi hết hạn hợp đồng lao động vẫn tiếp tục làm việc

0
370
Quyền lợi khi hết hạn hợp đồng lao động vẫn tiếp tục làm việc. Trách nhiệm của chủ sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.


Tóm tắt câu hỏi:

Tôi xin hỏi Luật sư tư vấn giúp! Tôi đang làm hợp đồng lao đông 01 năm tại một đơn vị, ngày 04/4/2016 hết hạn hợp đồng nhưng đến nay đơn vị sử dụng lao đông không ký tiếp hợp đồng lao động và cung không có thông báo bằng văn bản đến tôi. Từ ngày hết hạn hợp đồng tôi vân làm việc bình thường tại đơn vị. hiện nay đơn vị sử dụng lao động đang cắt
giảm nhân sự vì lý do đơn vị thu hẹp sản xuất và tôi cung nằm trong thành phần cắt giảm. vậy nếu vào thời điểm 24/5/2016 đơn vị chấm dứt hợp đồng lao động với tôi như vây có đúng luật không, nêu sai thì sai ỏ điểm nào. Rất mong được sự tư vấn của Luật sư. Tôi chân thành cám ơn.

Trả lời tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến V-Law. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:
Căn cứ quy định về phân loại hợp đồng tại Điều 22, quy định như sau:
Điều 22. Loại hợp đồng lao động
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:
a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.
b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;
Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.
c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.
2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24
tháng.

Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.”
Như vậy trong trường hợp của anh, anh có kí hợp đồng lao động 01 năm tại một đơn vị, ngày 04/4/2016 hết hạn hợp đồng nhưng đến nay đơn vị sử dụng lao đông không ký tiếp hợp đồng lao động và cũng không có thông báo bằng văn bản. Từ ngày hết hạn hợp đồng anh vẫn làm việc bình thường tại đơn vị. hiện nay đơn vị sử dụng lao động đang cắt giảm nhân sự vì lý do đơn vị thu hẹp sản xuất và anh nằm trong thành phần cắt giảm. Đến thời
điểm 24/5/2016 đơn vị chấm dứt hợp đồng lao động với anh là đã quá 30 kể từ ngày hết hạn hợp đồng lao động mà anh vẫn làm việc bình thường trong khi hai bên vẫn không ký thêm hợp đồng lao động nên hợp đồng lao động của anh sẽ trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng với anh là trái pháp luật trừ trường hợp theo quy định của pháp luật về thủ tục thực hiện và nội dung quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động tại Điều 38, Bộ luật lao động năm 2012 như sau:
Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:
a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;
b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;
c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;
d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.
2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:
a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”
Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái phép thì phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42, Bộ luật lao động năm 2012 quy định như sau:
Điều 42. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.
3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.
5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”
Lưu ý: Ý kiến của Luật sư, văn bản pháp luật được trích dẫn trong tư vấn nêu trên có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm tham khảo bài viết. Để được tư vấn, lắng nghe ý kiến tư vấn chính xác nhất và mới nhất từ các Luật sư vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6198. Các Luật sư chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm của chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ bạn ngay lập tức.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây