Tạm đình chỉ trong xử lý kỷ luật lao động

0
922
Tạm đình chỉ trong xử lý kỉ luật lao động. Quy định pháp luật lao động về tạm đình chỉ trong xử lý kỉ luật lao động.


Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động trong xử lý kỉ luật lao động được quy định cụ thể tại Điều 129, Bộ Luật lao động 2012:
1. Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được
thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

2. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 90 ngày. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.
Hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.
3. Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.
4. Trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.
Theo đó, khi người lao động vi phạm kỷ luật lao động hoặc có quan hệ đến vụ việc vi phạm tiêu cực có những tình tiết phức tạp, gây trở ngại cho việc xác minh làm rõ sự kiện thì người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động.
Trước khi quyết định đình chỉ công việc của người lao động, người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở. Thời gian tạm đình
chỉ công việc đối với người lao động là 15 ngày, trường hợp đặc biệt không quá 90 ngày.
Trước khi bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng trước 50% tiền lương.
Theo quy định tại Điều 132, Bộ Luật Lao động 2012 thì Người bị tạm đình chỉ công việc nếu xét thấy không thỏa đáng hoặc không đúng pháp luật thì có quyền khiếu nại với người
sử dụng lao động hoặc với cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về lao động theo quy định của pháp luật hoặc yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động theo trình tự do pháp luật quy định. Điều này được hướng dẫn cụ thể tại Điều 33, Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật Lao động.
Theo đó, người sử dụng lao động phải hủy bỏ hoặc ban hành quyết định thay thế quyết định đã ban hành và thông báo đến người lao động trong phạm vi doanh nghiệp biết khi cơ
quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại kết luận khác với nội dung quyết định tạm đình chỉ công việc.
Người sử dụng lao động phải khôi phục quyền và lợi ích của người lao động bị vi phạm do quyết định tạm đình chỉ công việc.
Trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động, phải trả đủ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày tạm đình chỉ không được làm
việc.
Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng trước đó. Nếu có thiệt hại về vật chất thì người lao động phải chịu trách nhiệm vật chất, bồi thường thiệt hại theo Điều 130, Bộ Luật lao động 2012 và
Khoản 6, Điều 26, Nghị định 05/2015/NĐ-CP.
Quyết định tạm đình chỉ công việc đối với người lao động nên được ban hành dưới hình thức bằng văn bản để làm căn cứ giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền trong trường hợp
phát sinh tranh chấp
Lưu ý: Ý kiến của Luật sư, văn bản pháp luật được trích dẫn trong tư vấn nêu trên có thể đã hết hiệu lực tại thời điểm tham khảo bài viết. Để được tư vấn, lắng nghe ý kiến tư vấn chính xác nhất và mới nhất từ các Luật sư vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline: 1900.6198. Các Luật sư chuyên môn, nhiều năm kinh nghiệm của chúng tôi sẽ tư vấn – hỗ trợ bạn ngay lập tức.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây