Xác định tỷ lệ thương tật là bao nhiêu % khi bị tai nạn giao thông?

0
544

Theo khoản 2, khoản 3 , Điều 2, Luật giám định tư pháp 2012 quy định như sau:

.Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Người yêu cầu giám định là người có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận. Người có quyền tự mình yêu cầu giám định bao gồm đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ, trừ trường hợp việc yêu cầu giám định liên quan đến việc xác định trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”

Để biết chính xác tỷ lệ thương tật thì gia đình nên đưa người bị thương tật đi giám định. Gia đình làm đơn gửi tới cơ quan công an cấp huyện nơi xảy ra tai nạn giao thông để yêu cầu trưng cầu giám định. 

Về vấn đề bồi thường thiệt hại: Theo thông tin bạn cung cấp thì người đi xe máy vừa đi vừa nghe điện thoại. Hành vi này của người đi xe máy đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông. Cụ thể: Khoản 3 Điều 30 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định người điều khiển xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy không được thực hiện các hành vi sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính. Ở đây, người đi xe máy điều khiển xe còn sử dụng điện thoại dẫn đến tai nạn cho mẹ bạn điều này có nghĩa là người gây tai nạn đã có hành vi gây thiệt hại về sức khỏe và tài sản cho mẹ bạn, lỗi hoàn toàn thuộc về người gây tai nạn. Do đó, người đi xe máy có trách nhiệm bồi thường cho bạn theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

Theo Điều “584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại”

  • Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
  • Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
  • Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    Luật sư tư vấn pháp luật giao thông - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
    Luật sư tư vấn pháp luật giao thông – Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Theo Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nguyên tắc thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, hai bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, cũng như mức bồi thường. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.

  • Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu… theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ… để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
  • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
  • Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;
  • Một khoản tiền để bù đắp tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại. Mức bồi thường có thể do các bên thỏa thuận nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa là 50 lần mức lương cơ sở. Hiện tại mức lương cơ sở nhà nước là 1.300.000 đồng/tháng. Do đó, mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa mà bạn được nhận là 65.000.000 đồng.

Trong trường hợp đã có bản án của Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự hoặc phần dân sự trong bản án hình sự có nội dung buộc bên gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại cho mẹ bạn mà người đó không tự nguyện thực hiện thì mẹ bạn có thể gửi đơn yêu cầu thi hành án dân sự đến cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Điều 35 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung 2014 để buộc bên kia phải thực hiện theo bản án. Cụ thể, theo khoản 4, Điều 1 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung 2014 thì:

1. Người được thi hành án có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu thi hành án, đình chỉ thi hành một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án được quy định trong Luật này;”

người bị thương tật sẽ chuẩn bị hồ sơ gồm: đơn yêu cầu thi hành án hoặc biên bản ghi nhận yêu cầu thi hành án; Bản án, quyết định được thi hành (bản chính), đối với bản án, quyết định của tòa án thì có ghi “để thi hành”. Và theo khoản 15 Điều 1 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi 2014 thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án và tiến hành các trình tự thi hành án theo quy định của pháp luật.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 202 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ :

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm….”

Theo đó, người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và hành vi đó gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiệm trọng về sức khỏe, tài sản của người khác thì người đó sẽ bịphạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Và theo quy định tại Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP để được coi là gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ hoặc tài sản của người khác thì phải thuộc một trong các trường hợp sau đây:Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên. Như vậy, xét trong trường hợp của bạn nếu người lái xe có hành vi vi phạm an toàn giao thông và hành vi đó gây tổn hại cho sức khỏe của bạn với tỷ lệ thương tật là 31% trở lên thì người lái xe đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Đối chiếu quy định trên với trường hợp của bạn thì nếu mẹ bạn bị thương tật từ 31% trở lên thì người lái xe gây tai nạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009. Nếu phía công an giải quyết không thỏa đáng thì bạn có quyền khiếu nại để xem xét.

2. Thủ tục xác nhận mức độ khuyết tật

Theo quy định tại Điều 5 Thông tư 37/2012/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT quy định:

Khi có nhu cầu xác định mức độ khuyết tật, người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của người khuyết tật gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người khuyết tật cư trú.

  • Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm triệu tập Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, gửi thông báo về thời gian xác định mức độ khuyết tật cho người khuyết tật hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
  • Hội đồng xác định mức độ khuyết tật tổ chức việc xác định mức độ khuyết tật, lập hồ sơ xác định mức độ khuyết tật và kết luận.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã niêm yết và thông báo công khai kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy xác nhận mức độ khuyết tật.
  • Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định chi tiết trình tự, thủ tục, hồ sơ xác định mức độ khuyết tật quy định tại Điều này.

Những cơ quan nào làm nhiệm vụ xác nhận mức độ khuyết tật?

1. Việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện.

2. Trong trường hợp sau đây thì việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng giám định y khoa thực hiện:

a. Hội đồng xác định mức độ khuyết tật không đưa ra được kết luận về mức độ khuyết tật.

b. Người khuyết tật hoặc đại diện hợp pháp của người khuyết tật không đồng ý với kết luận của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật;

c. Có bằng chứng xác thực về việc xác định mức độ khuyết tật của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật không khách quan, không chính xác.

3. Trường hợp đã có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về khả năng tự phục vụ, mức độ suy giảm khả năng lao động thì việc xác định mức độ khuyết tật theo quy định của Chính phủ.

4. Hội đồng xác định mức độ khuyết tật do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) thành lập.

5. Hội đồng xác định mức độ khuyết tật bao gồm các thành viên sau đây:

Dịch vụ tham khảo: Công ty luật, văn phòng luật sư tư vấn pháp luật uy tín toàn quốc

a. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là Chủ tịch Hội đồng;

b. Trạm trưởng trạm y tế cấp xã;

c. Công chức cấp xã phụ trách công tác lao động, thương binh và xã hội;

d. Người đứng đầu hoặc cấp phó của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh cấp xã;

e. Người đứng đầu tổ chức của người khuyết tật cấp xã, nơi có tổ chức của người khuyết tật.

6. Chủ tịch Hội đồng có trách nhiệm tổ chức và chủ trì hoạt động của Hội đồng. Hội đồng làm việc theo nguyên tắc của tập thể. Cuộc họp của Hội đồng chỉ có giá trị khi có ít nhất 2/3 số thành viên của Hội đồng tham dự. Kết luận của Hội đồng được thông qua bằng cách biểu quyết theo đa số. Trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng. Kết luận của Hội đồng được thể hiện bằng văn bản do Chủ tịch Hội đồng ký.

7. Hội đồng xác định mức độ khuyết tật quyết định độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực trong việc xác định mức độ khuyết tật.

8. Bộ trưởng Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quy định chi tiết hoạt động của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật.

Xem thêm:

– Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây