Xử lý công ty không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm xã hội và khấu trừ thuế sai

0
363

Câu hỏi tư vấn:
Tôi có 1 vấn đề về luật lao động, kính nhờ luật sư giải thích dùm. Hiện chồng tôi đang làm nhân viên lắp đặt bộ phận điện lạnh cho một siêu thị điện máy đã được 4 năm. Nhưng bên siêu thị không hề cho nhân viên được ký hợp đồng lao động, không được hưởng lương căn bản, chỉ hỗ trợ phí xăng hàng tháng là 1,8 triệu, lắp đặt ăn lương sản phẩm, không có bảo hiểm y tế, mặc dù công việc nguy hiểm. Thời gian làm việc thì có hôm phải làm trên 12 tiếng. Thường thì làm việc 1 tuần sẽ được nghỉ ca 1 ngày, nhưng có lúc siêu thị không cho nghỉ ca. Đến nay, bên phía siêu thị bắt buộc nhân viên lắp đặt phải đóng thuế thu nhập cá nhân là 10%/tháng lương sản phẩm. Như vậy bên siêu thị làm đúng hay sai, và đúng hay sai ở điểm nào. Kính mong quý luật sư giải thích dùm. Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:
Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tư vấn đến V-law. Với trường hợp của bạn, công ty tư vấn như sau:
Thứ nhất, về vấn đề hợp đồng lao động.
Điều 16 Bộ luật lao động 2012 quy định về hình thức hợp đồng lao động như sau:
1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.
Như vậy, nếu chồng bạn đã làm việc trên 04 năm nhưng công ty không ký kết hợp đồng băng văn bản là công ty đang vi phạm quy định pháp luật. Với hành vi này, tùy theo số lượng người lao động vi phạm, công ty có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 nghị định 88/2015/NĐ-CP như sau:
Điều 5. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động
1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp thuê người lao động làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:
a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.
Thứ hai, về bảo hiểm.
Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội như sau:
1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:
a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;…
Căn cứ vào quy định trên, hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên từ 01/01/2019 bắt buộc phải tham gia bảo hiêm xã hội. Công ty bạn không tham gia bảo hiểm cho người
lao động cũng là trái quy định của pháp luật. Hành vi này cũng sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 26 nghị định 95/2013/NĐ-CP, phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
Thứ ba, về thuế thu nhập cá nhân.
Theo quy định tại Điểm 1 khoản 1 Điều 25 thông tư 111/2013/TT-BTC hướng dẫn luật thuế thu nhập cá nhân và nghị định 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân: i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.
Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.
Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.
Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.
Việc khấu trừ thuế 10% áp dụng đối với người lao động ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động. Đối với cá nhân cư trú có hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên thì doanh nghiệp trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần. Như vậy, bản chất chồng bạn đã làm việc hơn 04 năm, có quan hệ lao động thực tế theo hợp đồng không xác định thời hạn, công ty thực hiện khấu trừ thuế 10% là không đúng quy định của pháp luật.
Trên đây là nội dung tư vấn của V-law về vấn đề bạn yêu cầu tư vấn: Xử lý công ty không ký hợp đồng lao động, không đóng bảo hiểm xã hội và khấu trừ thuế sai. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng gọi điện đến bộ phận luật sư tư vấn trực tuyến – Số điện thoại liên hệ 1900.6198 để được giải đáp, hỗ trợ kịp thời.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây