Xử phạt xe máy không chính chủ như thế nào?

0
356

Theo quy định tại Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì mức xử phạt cho hành vi điều khiển xe máy không chính chủ có tăng hơn nhiều so với Nghị định 46/2016/NĐ-CP được ban hành trước đó.

Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật giao thông, gọi Tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

Hiểu xe máy không chính chủ là như thế nào?

Trong Luật Giao thông đường bộ 2008 và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt đều không có cụm từ nào là xe không chính chủ.

Xe không chính chủ là cách thường gọi của hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên mình khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế.

Cách xác định xe máy không chính chủ như thế nào?

Quy định tại Khoản 10 Điều 80 Nghị định 100/2019/NĐ-CP thì việc xác minh để phát hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4, điểm l khoản 7 Điều 30 Nghị định này chỉ được thực hiện thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; qua công tác đăng ký xe.

Theo đó, hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe máy, ô tô chỉ bị xử phạt nếu được xác minh để phát hiện hành vi vi phạm trong 02 trường hợp: Thông qua công tác điều tra, giải quyết vụ tai nạn giao thông; Qua công tác đăng ký xe.

Mức xử phạt xe máy không chính chủ mới nhất

Đối với xe máy, theo Khoản 4, Điều 30, Nghị định 100/2019/NĐ-CP vừa có hiệu lực từ năm 2020, quy định về việc xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ thì:

Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với cá nhân, từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

(i) Không làm thủ tục đăng ký sang tên xe (để chuyển tên chủ xe trong Giấy đăng ký xe sang tên của mình) theo quy định khi mua, được cho, được tặng, được phân bổ, được điều chuyển, được thừa kế tài sản là xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô;

(ii) Không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe theo quy định khi thay đổi địa chỉ của xe

(iii) Không thực hiện đúng quy định về biển số.

Như vậy, với hành vi điều khiển xe không chính chủ, mức phạt mới nhất sẽ là từ 400.000 đồng đến 1.200.000 đồng tùy theo mức độ vi phạm và đối tượng áp dụng là cá nhân hay tổ chức. Mức phạt này cao hơn khá nhiều so với mức phạt được quy định tại Nghị định 46 trước đó. Nghị định 46 chỉ xử phạt xe không chính chủ đối với xe máy ở mức 100.000-200.000 đồng cho cá nhân và 200.000-400.000 nghìn đồng với tổ chức.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây