Yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại khi làm thất thu tài sản của công ty

0
402

Yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại khi làm thất thu tài sản của công ty

Yêu cầu người lao động bồi thường thiệt hại khi làm thất thu tài sản của công ty. Trách nhiệm pháp lý đối với trường hợp người lao động gây thiệt hại cho công ty.


Tóm tắt câu hỏi:
Thưa quý công ty. Tôi có thắc mắc này xin được trợ giúp của Công ty Luật TNHH Everest! Công ty chúng tôi có bị một nhân viên phòng kinh doanh làm thất thu của công ty với số tiền là 450 triệu đồng. Tôi có bằng chứng về việc đó. Công ty đã sa thải nhân viên này. Tôi muốn hỏi về chuyện bồi thường số tiền 450 triệu đó phải giải quyết như thế nào? Có thể khởi tố hình sự được không? Cảm ơn quý công ty.
Luật sư tư vấn:
Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest. Với thắc mắc của bạn, Công ty Luật TNHH Everest xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:
1. Cơ sở pháp lý:

– Điều 130 Bộ luật Lao động 2012;
– Điều 584, 585,586 và 588 Bộ luật dân sự 2015;
– Điều 174, 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
2. Giải quyết vấn đề:

Thứ nhất, về trách nhiệm bồi thường thiệt hại vật chất trong quan hệ lao động, Điều 130 Bộ luật Lao động 2012 quy định: “1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.
2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.”
Theo những thông tin bạn cung cấp thì một nhân viên ở công ty bạn gây ra thiệt hại cho công ty một số tiền là 450 triệu đồng. Vấn đề bồi thường trong trường hợp này sẽ được giải quyết theo một trong hai phương thức sau:
Một là, theo hợp đồng lao động: nếu hợp đồng lao động giữa công ty bạn và người nhân viên kia có quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người lao động thì những quy định đó sẽ được áp dụng. Trường hợp người lao động làm mất tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo giá thị trường, còn trường hợp giữa người lao động và người sử dụng lao động có hợp đồng trách nhiệm thì sẽ bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.
Hai là, theo quy định của pháp luật dân sự: nếu hợp đồng lao động không quy định về vấn đề bồi thường thiệt hại do người lao động gây ra thì việc giải quyết sẽ được thực hiện theo quy định có liên quan. Cụ thể, những vấn đề chung nhất về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này được quy định tại các điều 584, 585, 586 và 588 Bộ luật dân sự 2015.
Như vậy, trường hợp của bạn được coi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy, hai bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường. Việc bồi thường phải được thực hiện kịp thời và toàn bộ.
Thứ hai, vì những thông tin bạn đưa ra không đầy đủ nên chưa đủ căn cứ để đặt ra vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự với người nhân viên làm công ty bạn thất thu 450 triệu đồng. Tuy nhiên, bạn có thể đối chiếu các hành vi của nhân viên công ty để xem xét nhân viên đó có thể cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; ,c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; g) Tái phạm nguy hiểm. 3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. 4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Xem xét hành vi trong tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản như sau : Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một hợp đồng có thể miệng, văn bản hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản. Sau khi nhận được tài sản từ người bị hại thì người này sẽ có một trong hai hành vi: Dùng  thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đang do mình quản lý; về thủ gian dối cũng được thể hiện bằng những hành vi cụ thể nhằm đánh lừa chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản như đối với thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Trường hợp này cần xem xét người nhân viên công ty có hành vi lợi dụng sự tin tưởng của công ty, do tin tưởng nên giao tài sản cho nhân viên. Sau đó, bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản khi đó nhân viên công ty đã lợi dụng niềm tin của công ty để chiếm đoạt tài sản.
Hoặc cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Tái phạm nguy hiểm; đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;  b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Để cấu thành tội phạm thì người phạm tội phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Cụ thể: Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quan lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho người phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận. Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Từ đó, bạn có thể đối chiếu, xem xét các hành vi làm thất thu 450 triệu của nhân viên công ty có hành vi gian dối hay lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản hay không thì tùy vào mức độ sẽ cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo.

TRẢ LỜI

Vui lòng nhập bình luận của bạn!
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây